|
Kinh tế thủy sản là một trong những thế mạnh của Kiên Giang và là ngành kinh tế có khả năng tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị cao. Chương trình phát triển công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đến năm 2010 nhắm đến mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất và giá trị hàng xuất khẩu thủy sản đã qua chế biến…
CHƯƠNG TRÌNH
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN
THỦY SẢN XUẤT KHẨU TỈNH KIÊN GIANG ĐẾN NĂM 2010
Kinh tế thủy sản là một trong những thế mạnh của Kiên Giang và là ngành kinh tế có khả năng tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị cao. Với tiềm năng phong phú, đa dạng từ khai thác đến nuôi trồng đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định phục vụ cho nhu cầu phát triển công nghiệp chế biến thủy sản trong tỉnh. Các ngành nghề chế biến thủy sản tỉnh Kiên Giang gồm các mặt hàng tôm - cá - mực đông, chả cá, khô các loại, nước mắm, bột cá,... Tình hình sản xuất trong thời gian qua, nhìn chung có nhiều thuận lợi do nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chế biến sẵn gia tăng, nhất là phục vụ cho xuất khẩu, việc tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở chế biến và đầu tư xây dựng mới được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện, nên sản lượng tăng dần qua các năm.
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN XUẤT KHẨU TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐỌAN 2001-2005
1. Tình hình chung
- Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thủy sản:
Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến thủy sản năm 2001 đạt 797,41 tỷ đồng, năm 2005 đạt 1.796,80 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 18,57%, chiếm tỷ trọng 24,40% trong giá trị sản xuất công nghiệp chung toàn tỉnh và đứng thứ 5 trong khu vực ĐBSCL về giá trị thủy sản chế biến, sau các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ và Cà Mau.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp chế biến thủy sản theo thành phần kinh tế có bước chuyển biến tích cực. Doanh nghiệp nhà nước mỗi năm chiếm trên 50%; khu vực ngoài quốc doanh ngày càng đầu tư phát triển mạnh, huy động được nguồn lực tạo ra giá trị sản xuất hàng năm chiếm từ 30-35%, còn lại là khu vực đầu tư nước ngoài.
- Số lượng cơ sở sản xuất và lao động:
Tính đến cuối năm 2005, có 3.943 cơ sở chế biến thủy sản, thu hút một lượng lớn lao động từ 14.473 người năm 2001, tăng lên 16.687 người vào năm 2005, chiếm 44,56% trên tổng số lao động toàn ngành công nghiệp. Tuy nhiên, xét về chất lượng lao động trong ngành chế biến thủy sản hiện nay vẫn còn thấp, số lao động có trình độ đại học, trung cấp chiếm khoảng 30%, chủ yếu là cán bộ quản lý, trong đó có gần 10% cán bộ quản lý có trình độ trên đại học; còn lại 70% lao động là công nhân sản xuất đều có trình độ thấp, chủ yếu là lao động phổ thông. Đây là trở ngại lớn trong quá trình đổi mới phương thức quản lý, nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh để hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
- Tình hình đầu tư tăng năng lực sản xuất:
Thực hiện mục tiêu chung của tỉnh là phát triển ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển các nhóm ngành có lợi thế về tài nguyên và nguồn nguyên liệu. Trên cơ sở đó, lĩnh vực chế biến thủy sản ngày càng được các thành phần kinh tế tham gia thực hiện, nhất là khu vực ngoài quốc doanh, với thiết bị công nghệ từng bước được đổi mới theo hướng tiên tiến, hiện đại, đảm bảo chất lượng hàng hoá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, có tính cạnh tranh cao và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Trong 5 năm qua (2001-2005), có 36 dự án chế biến thủy sản được đầu tư, trong đó: 20 dự án thuộc doanh nghiệp nhà nước, 14 dự án khu vực ngoài quốc doanh và 02 dự án thuộc khu vực đầu tư nước ngoài. Tổng vốn đầu tư 427,20 tỷ đồng, trong đó vốn vay là 267,56 tỷ đồng và nguồn vốn khác là 159,64 tỷ đồng.
- Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản:
Hoạt động xuất khẩu hàng thủy sản của tỉnh ngày càng được các ngành, các cấp cũng như các doanh nghiệp quan tâm thực hiện, công tác tiếp thị và quảng bá sản phẩm ngày càng được đẩy mạnh, góp phần mở rộng quan hệ mua bán, đưa kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản năm sau cao hơn năm trước. Trong đó: năm 2001 đạt 40 triệu USD, năm 2005 đạt 90 triệu USD, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2005 là 20,79%. Chiếm tỷ trọng 40,75% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh và đứng thứ 7 trong khu vực ĐBSCL về kim ngạch xuất khẩu.
Mặt hàng thủy sản xuất khẩu ngày càng có sự chuyển biến tích cực, chất lượng sản phẩm được nâng cao, với nhiều mặt hàng đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu, sản lượng xuất khẩu ngày càng tăng như: tôm đông từ 1.250 tấn năm 2001 tăng lên 2.600 tấn năm 2005; mực đông từ 6.000 tấn tăng lên 10.000 tấn; cá đông từ 300 tấn tăng lên 1000 tấn;...
- Công tác qui hoạch, phát triển vùng nguyên liệu:
Đã tiến hành xây dựng các dự án qui hoạch chi tiết nuôi tôm tại các huyện trọng điểm của tỉnh thuộc các huyện vùng Bán đảo Cà Mau và Tứ giác Long Xuyên, theo phương thức nuôi bán thâm canh, thâm canh và nuôi quảng canh cải tiến. Đi đôi việc đầu tư qui hoạch các vùng nuôi tôm, tỉnh đã xây dựng các dự án thủy lợi phục vụ nuôi tôm tại các vùng chuyển đổi. Từ năm 2001 đến năm 2005 đã triển khai đầu tư thực hiện trên 450 dự án kênh, mương thủy lợi và các bờ bao tại các huyện, thị xã, trong đó chủ yếu là nạo vét các kênh cũ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất mà cơ bản là chuyển đất lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm, tổng vốn đầu tư trên 97 tỷ đồng.
Song song đó, chất lượng vùng nguyên liệu được qui hoạch luôn được tỉnh quan tâm thực hiện, với hàng loạt các chương trình kiểm soát an toàn nguồn nguyên liệu được triển khai thực hiện như: chương trình kiểm soát dư lượng một số chất độc hại trong sản phẩm tôm nuôi, chương trình kiểm soát nhuyễn thể 2 mảnh vỏ và chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh tàu cá. Theo đó, nguồn nguyên liệu từ nuôi trồng và khai thác khi đưa vào chế biến đảm bảo được một phần về an toàn chất lượng. Tuy nhiên, cũng còn một số đơn vị chế biến phải mua nguyên liệu qua trung gian, qua các cơ sở thu mua nên chất lượng không đảm bảo.
Do tổ chức triển khai thực hiện tốt dự án qui hoạch chi tiết nuôi tôm và dự án thủy lợi ở những vùng chuyển đổi, tốc độ phát triển nuôi tôm ở tỉnh Kiên Giang tăng nhanh về diện tích và sản lượng. Năm 2001 diện tích 26.800 ha, sản lượng 4.800 tấn và năm 2005 diện tích 66.807 ha, sản lượng 18.121 tấn tăng so năm 2001 là 2,5 lần về diện tích và 3,8 lần về sản lượng.
Ngoài nuôi tôm sú, các loại thủy sản nuôi trồng khác cũng được đầu tư phát triển mạnh cả về qui mô và sản lượng thu hoạch như: nuôi nghiêu, sò, cua, cá các loại, trong đó có mặt hàng cá tra được đầu tư nuôi trong năm 2005, với diện tích 15 ha sản lượng thu hoạch đạt 271 tấn.
2. Tình hình phát triển của một số sản phẩm thủy sản xuất khẩu
Sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến thủy sản ngày càng đa dạng, bao gồm 2 nhóm: chế biến thủy sản theo phương thức công nghiệp chủ yếu là những sản phẩm được chế biến nhằm vào thị trường xuất khẩu, với giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn như: tôm, cá, mực đông, chả cá, cá hộp. Chế biến thủy sản theo phương thức thủ công, là các sản phẩm chủ yếu được chế biến để tiêu thụ nội địa, xuất khẩu ít và trị giá kim ngạch xuất khẩu không cao như nước mắm, cá khô, mắm các loại,... Cụ thể từng sản phẩm như sau:
2.1. Chế biến thủy sản đông lạnh
Chế biến thủy sản đông lạnh là ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh, với các mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao như: Tôm, mực, cá đông, hải sản đông khác… sản lượng chế biến hàng năm đều tăng, bình quân giai đoạn 2001-2005 sản lượng thủy sản đông tăng 25,52%, do được đầu tư xây dựng mới và cải tiến công nghệ hiện đại nên năng lực sản xuất tăng khá. Tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 19 cơ sở chế biến đông lạnh, với công suất thiết kế 60.064 tấn/năm, tăng 13 nhà máy so năm 2001. Trong đó: khu vực quốc doanh 08 nhà máy, công suất trên 34.740 tấn/năm. Khu vực ngoài quốc doanh có 9 nhà máy, công suất 21.124 tấn/năm và khu vực đầu tư nước ngoài 02 nhà máy, công suất trên 4.200 tấn/năm.
Trong lĩnh vực chế biến thủy sản đông lạnh, mặt hàng chả cá và đồ hộp ngày càng được khách hàng ưa chuộng. Tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 4 dây chuyền chế biến chả cá, trong đó khu vực quốc doanh 3 dây chuyền, tổng công suất 5.500 tấn/năm; khu vực đầu tư nước ngoài 01 dây chuyền, công suất 1.000 tấn/năm. Chế biến cá hộp có 01 dây chuyền thuộc khu vực quốc doanh được đầu tư năm 2001, công suất thiết kế ban đầu là 10 triệu lon/năm, đến năm 2005 đã đầu tư nâng cấp lên 25 triệu lon/năm và 01 dây chuyền thuộc khu vực ngoài quốc doanh được đầu tư năm 2005, công suất 10 triệu lon/năm.
Đầu tư dây chuyền chế biến cá tra, cá basa cũng được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện trong những năm gần đây, chủ yếu là kết hợp chế biến nhiều loại thủy sản trong đó có cá tra, cá basa nhằm đa dạng hoá mặt hàng chế biến - xuất khẩu. Hiện tại khu cảng cá Tắc Cậu có 01 dây chuyền chế biến cá tra đầu tư năm 2004, với công suất khoảng 15 tấn/ngày, năm 2006 phát triển thêm 01 dây chuyền.
Ngoài ra, cũng còn một số sản phẩm khác như: nghiêu, sò, hến, thịt ghẹ đông lạnh,… đã góp phần tạo nên sự đa dạng về sản phẩm hàng hoá và giá trị công nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh.
Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, nếu như trước năm 2000 sản phẩm đông lạnh chủ yếu xuất sang thị trường Nhật Bản và các nước Châu Á, thì từ năm 2001 đến 2005 đã mở rộng sang các nước Châu Âu, Mỹ, Nga,…
2.2. Chế biến bột cá:
Chế biến bột cá là một trong những ngành sản xuất mang lại lợi nhuận cao, tận dụng mọi nguồn nguyên liệu khai thác được kể cả các loại phế liệu. Đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 7 nhà máy chế biến bột cá, công suất 20.000 tấn. Trong đó: khu vực quốc doanh 1 nhà máy, công suất 12.000 tấn/năm; khu vực ngoài quốc doanh 4 nhà máy, công suất 4.000 tấn/năm và khu vực đầu tư nước ngoài 2 nhà máy, công suất 4.000 tấn/năm. Sản lượng sản xuất cũng tăng dần qua các năm, với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 10,36%, tương đương 59.798 tấn của giai đoạn 2001-2005, bình quân mỗi năm chế biến được 11.960 tấn, nguyên liệu đưa vào chế biến chiếm 54,87% sản lượng cá loại 7. Thị trường tiêu thụ bột cá chủ yếu là tiêu thụ nội địa, một phần xuất khẩu sang các nước Nhật, Đài Loan.
2.3. Chế biến khô các loại:
Hiện toàn tỉnh có khoảng 367 cơ sở hoạt động thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó có 1 Công ty TNHH và 10 doanh nghiệp tư nhân với qui mô sản xuất lớn, sản lượng sản xuất hàng năm từ 200 - 400 tấn, số còn lại đều là hộ kinh doanh cá thể. Sản lượng sản xuất cũng được tăng lên từ 7.788 tấn khô các loại năm 2001 đến năm 2005 đạt 12.500 tấn, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2005 là 1,31%, trong đó sản lượng xuất khẩu hàng năm đạt từ 500-800 tấn. Ngành chế biến khô của tỉnh thời gian qua đã có nhiều tiến bộ trong quản lý sản xuất, sản phẩm ngày càng đa dạng, chất lượng được nâng cao. Ngoài thị trường tiêu thụ nội địa, sản phẩm khô được xuất sang các thị trường Malaysia, Singapore. Tuy nhiên, nhìn chung ngành chế biến khô của tỉnh còn mang tính chất sản xuất nhỏ, manh mún, điều kiện sản xuất không đạt yêu cầu, đa số cơ sở còn xen lẫn trong khu dân cư, không có hệ thống xử lý nước thải, vì thế làm ảnh hưởng đến môi trường rất nhiều đến dân cư xung quanh và nơi sản xuất.
2.4. Sản xuất nước mắm:
Từ 120 cơ sở năm 2001 tăng lên 155 cơ sở năm 2005, với sức chứa khoảng 45 triệu tấn chượp, sản lượng sản xuất mỗi năm đạt từ 25-35 triệu lít, trong đó xuất khẩu đạt trên 500.000 lít/năm. Tập trung nhiều nhất ở huyện Phú Quốc với trên 90 cơ sở, xã Lại Sơn - huyện Kiên Hải 20 cơ sở, số còn lại nằm rải rác ở một số huyện, thị, thành phố như Rạch Giá, Châu Thành, Hòn Đất, Giồng Riềng. Các cơ sở sản xuất nước mắm đều thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó có 2 Công ty cổ phần, 8 công ty TNHH, 66 doanh nghiệp tư nhân và còn lại là hộ kinh doanh cá thể.
Về thị trường tiêu thụ: ngoài các thị trường truyền thống ở các tỉnh ĐBSCL và TP.HCM, hiện nay nước mắm Kiên Giang đã có mặt ở các tỉnh Miền Bắc và miền Đông Nam bộ, đồng thời sản phẩm nước mắm bắt đầu thâm nhập vào thị trường thế giới từ năm 1999 và đến nay đã có thương hiệu riêng, rất được người tiêu dùng ưa chuộng, các thị trường chủ yếu là Mỹ, Nhật, EU.
3. Năng lực chế biến thủy sản so tiềm năng nguyên liệu
Nhìn chung, ngành công nghiệp chế biến thủy sản là một trong những ngành có lợi thế về nguồn nguyên liệu, nhưng thời gian qua vẫn chưa khai thác tốt. Theo số liệu tổng hợp của ngành thủy sản cho thấy, nguồn nguyên liệu thủy sản rất dồi dào, đảm bảo ổn định được nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh. Ngoài sản lượng khai thác hàng năm đạt từ 250.000-300.000 tấn, tỉnh còn tập trung đầu tư qui hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản các loại nước mặn, nước lợ, nước ngọt, diện tích ngày càng mở rộng đến nay đã đạt gần 83.000 ha, sản lượng thu hoạch trên 47.800 tấn, trong đó phát triển nhanh nhất là nuôi tôm sú với diện tích đạt 66.807 ha và sản lượng thu hoạch 18.121 tấn.
Tuy nhiên, xét về mức cân đối cung cầu giữa qui hoạch phát triển vùng nguyên liệu và năng lực chế biến trong thời gian qua, cho thấy nguồn nguyên liệu đưa vào chế biến vẫn còn đạt thấp so sản lượng khai thác và nuôi trồng thực tế. Tỷ lệ chế biến mới đạt khoảng 42% nguồn nguyên liệu thủy sản trong tỉnh (cả khai thác và nuôi trồng), trong đó các sản phẩm chế biến từ tôm mới đạt 19,87%; mực 34,42%; bột cá 54,87%. Đặc biệt là tôm đông, theo đánh giá của ngành thủy sản, hiện nay mới chỉ có 8,5% sản lượng tôm nuôi được đưa vào chế biến.
4. Nhận xét đánh giá chung
4.1. Những kết quả đạt được
Trong những năm qua, công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh đạt những kết quả nhất định, tạo tiền đề cho bước phát triển cao hơn trong thời gian tới.
- Ngành công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu tỉnh Kiên Giang hiện là một trong những ngành kinh tế chủ lực của tỉnh; tỷ trọng GDP ngày càng lớn và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế; Giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Kiên Giang.
- Năng lực sản xuất được nâng lên, máy móc thiết bị, công nghệ được đầu tư theo hướng hiện đại, tiên tiến, hạn chế ô nhiễm môi trường. Sản phẩm chế biến ngày càng đa dạng, chất lượng sản phẩm đang ngày một nâng cao và đi dần vào công nghệ tinh chế, tạo ra sản phẩm hàng hoá có hàm lượng giá trị gia tăng lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao và đồng thời đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu sản phẩm từng bước được quan tâm, mặc dù các doanh nghiệp luôn luôn đối mặt với các qui định khắt khe, các rào cản kỹ thuật, rào cản an toàn vệ sinh thủy sản, cùng các vụ kiện bán phá giá,… nhưng nhìn chung các doanh nghiệp đã nghiên cứu, tiếp cận và khai thác một số thị trường mới, góp phần ổn định hoạt động xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng, bình quân mỗi năm phát triển thêm 2-3 thị trường, nâng tổng số đến nay đạt khoảng 20 thị trường và vùng lãnh thổ.
- Các chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng và hoạt động ngày càng hiệu quả, đặc biệt là các doanh nghiệp ngòai quốc doanh. Tuy sản lượng xuất khẩu của các doanh nghiệp này chưa nhiều, nhưng nhìn chung đã có bước phát triển khá, góp phần tạo thêm giá trị kim ngạch xuất khẩu cho địa phương.
- Nguồn nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến thủy sản được quan tâm đầu tư từ qui mô đến chất lượng, đáp ứng một phần nhu cầu nguyên liệu cho doanh nghiệp.
- Môi trường pháp lý và cơ chế chính sách tiếp tục được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu phát triển, khuyến khích sự tham gia rộng rãi của nhiều thành phần kinh tế vào hoạt động xuất khẩu của tỉnh. Công tác cải cách thủ tục hành chính có nhiều chuyển biến tích cực, giảm được thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.
- Công tác huy động các nguồn vốn đầu tư cũng có sự chuyển biến, nguồn vốn đầu tư trong dân doanh cho chế biến thủy sản phát triển mạnh, một số đơn vị chế biến thủy sản của nhà nước được cổ phần hoá, tạo sự chủ động trong sản xuất và góp phần quan trọng làm gia tăng qui mô sản xuất và xuất khẩu hàng hoá của tỉnh.
4.2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được như trên, trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu thủy sản vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định.
- Công nghiệp chế biến và xuất khẩu hàng thủy sản, tuy có tăng trưởng nhưng chưa bền vững và dễ bị ảnh hưởng khi gặp các cú sốc từ bên ngoài như sự biến động giá cả trên thị trường thế giới hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của nước ngoài.
- Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu tuy có đa dạng nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
- Sản xuất phân tán chưa hình thành được các khu, cụm công nghiệp chế biến tập trung, chưa tạo được mối liên kết mạnh mẽ trong việc tiêu thụ hàng hoá thủy sản.
- Việc qui hoạch phát triển vùng nguyên liệu chưa đồng bộ, chưa tập trung, một số vùng phát triển tự phát không theo qui hoạch nên năng suất thấp, không đảm bảo chất lượng cho chế biến.
- Công tác xúc tiến thương mại còn hạn chế, chưa xây dựng được chiến lược thị trường nên còn gặp nhiều khó khăn khi thị trường biến động. Công tác quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức. Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật các doanh nghiệp trình độ ngoại ngữ còn hạn chế.
- Môi trường pháp lý và các cơ chế chính sách tuy có điều chỉnh thông thoáng nhưng nhìn chung hiệu quả trong vận dụng chưa cao. Chưa có chính sách hỗ trợ cho các cơ sở mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ.
- Khó khăn về vốn đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh có qui mô nhỏ và các hộ kinh doanh cá thể. Nguyên nhân chủ yếu là do tài sản thế chấp để vay vốn có giá trị thấp, nên nguồn vốn vay không đủ để mở rộng sản xuất, thay đổi trang thiết bị.
PHẦN THỨ HAI
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
CHẾ BIẾN THỦY SẢN XUẤT KHẨU TỈNH KIÊN GIANG
ĐẾN NĂM 2010
I. Những nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu tỉnh Kiên Giang đến năm 2010
- Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam cũng như Kiên Giang có thể vươn xa đến các nước và thâm nhập sâu vào thị trường thế giới. Quan hệ kinh tế ngày càng được mở rộng, trước mắt chúng ta đang thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của các nước ASEAN (CEPT) và gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Các rào cản thương mại sẽ được giảm bớt, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp cũng như các sản phẩm hàng hoá của Kiên Giang phát triển mạnh.
- Bên cạnh cơ hội cũng còn nhiều thách thức, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thủy sản chế biến tỉnh ta còn thấp, một bộ phận doanh nghiệp do khả năng tài chính có hạn vẫn đang sử dụng thiết bị công nghệ kém phẩm chất, chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu; hiểu biết về thương mại quốc tế còn kém; nhiều sản phẩm chưa có uy tín trên thương trường. Điều kiện về cơ sở hạ tầng của tỉnh chưa hoàn thiện làm hạn chế việc thu hút đầu tư phát huy thế mạnh của tỉnh, mặt khác cũng làm tăng chi phí, giá thành cao cho các sản phẩm.
II. Dự báo thị trường, nguồn nguyên liệu
1. Dự báo thị trường
1.1. Thị trường xuất khẩu tại chỗ
Việc tập trung đầu tư xây dựng đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới sẽ mở ra loại thị trường xuất khẩu tại chỗ, thông qua các hệ thống phân phối hàng hoá trong nước đang có xu hướng phát triển rất mạnh, đặc biệt là hệ thống các siêu thị.
Đối với hoạt động xuất khẩu trong nước, tập trung vào việc khai thác các hoạt động chi tiêu và mua sắm hàng hoá của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo dự tính đến năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam sẽ đạt trên 6 triệu người, với mức chi tiêu bình quân 100 USD/ngày/người và thời gian lưu trú trung bình 6 ngày, cho thấy doanh thu từ hoạt động xuất khẩu hàng hoá tại chỗ của Việt Nam sẽ đạt trên 1,2 tỷ USD. Chỉ tính riêng tỉnh Kiên Giang cho thấy, đến năm 2010 Kiên Giang sẽ đón khoảng 4-5 triệu khách du lịch và các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có trên 500 ngàn khách du lịch quốc tế, sẽ mở ra cơ hội cho Kiên Giang phát triển mạnh loại hình xuất khẩu tại chỗ.
Diễn biến tình hình cho thấy nhu cầu tiêu dùng trong nước về các mặt hàng thủy sản chế biến trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng mạnh. Đây là điều kiện tốt để các doanh nghiệp chế biến thủy sản tiếp tục nghiên cứu, tiếp cận và khai thác tối đa thị trường nội địa hãy còn rất nhiều tiềm năng.
1.2. Thị trường xuất khẩu ngoài nước
Trong giai đoạn 2006-2010 vẫn tiếp tục khai thác các thị trường có nhu cầu nhập khẩu hàng thủy sản với số lượng lớn như: thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Cơ hội đa dạng hoá thị trường còn lại ở các thị trường ASEAN, Trung Quốc và các nuớc Đông Âu cũ.
* Thị trường Mỹ
Nhu cầu nhập khẩu hàng thủy sản những năm gần đây khoảng 10,6 tỷ USD/năm, xuất khẩu của Việt Nam năm 2005 vào Hoa Kỳ chiếm 5,8% kim ngạch nhập khẩu của nước này, phấn đấu đến năm 2010 nâng tỷ lệ này lên trên 9,5%.
Mặc dù thời gian qua thủy sản Việt Nam cũng như của Kiên Giang gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ, vì các vụ kiện về bán phá giá tôm, cá tra, cá basa; các qui định về chất lượng sản phẩm,… song tình hình xuất khẩu của cả nước vào thị trường Mỹ vẫn liên tục tăng qua các năm. Đây là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản quan trọng cả trong hiện tại và tương lai, nhất là mặt hàng tôm - tỉnh ta đang có lợi thế về nguồn nguyên liệu. Vì vậy, cần tích cực khai thác để mở rộng qui mô xuất khẩu thủy sản vào thị trường này.
* Thị trường EU
Liên minh Châu Âu gọi tắt là EU, là tổ chức lớn nhất hiện nay gồm 25 quốc gia thành viên. Đây là một trong 3 trung tâm tiêu thụ hàng hoá lớn của thế giới và sẽ là thị trường đầy tiềm năng để các doanh nghiệp chế biến thủy sản thâm nhập và phát triển. Nhu cầu nhập khẩu hàng thủy sản của EU những năm gần đây khoảng 34 tỷ USD/năm, xuất khẩu của Việt Nam năm 2005 vào EU chỉ chiếm 1,3% kim ngạch nhập khẩu của khu vực này, phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ này được nâng lên 2%, tương ứng với kim ngạch xuất khẩu đạt 700 triệu USD.
Những năm gần đây dịch cúm gia cầm đang diễn biến phức tạp tại khu vực này, làm nãy sinh nhu cầu tiêu dùng cao về thủy sản, nhất là cá tra, cá basa fillet. Vì vậy, các doanh nghiệp chế biến thủy sản cần nghiên cứu kỹ thị trường này để đầu tư sản xuất các mặt hàng có thế mạnh của tỉnh. Tuy nhiên, đây là thị trường có những yêu cầu khắt khe về chất lượng, vệ sinh hàng hoá và có các hàng rào hạn chế nhập khẩu như hạn ngạch, tiêu chuẩn kỹ thuật,… mặc dù thuế suất của EU thấp và có xu hướng giảm dần, nhưng nhìn chung đây là thị trường được bảo hộ chặt chẽ.
* Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là bạn hàng xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ và là một trong những nước dẫn đầu trong lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam. Nhu cầu nhập khẩu hàng thủy sản của Nhật những năm gần đây luôn ở mức 12 tỷ USD/năm, năm 2005 xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Nhật Bản đạt 820 triệu USD, chiếm 6,8% kim ngạch nhập khẩu của nước này, phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ này nâng lên trên 12,5% tương ứng với kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 1,3 tỷ USD.
Các mặt hàng chính của nước ta xuất sang thị trường Nhật là cá ngừ, tôm, các loại nhuyễn thể,… trong đó tôm và cá ngừ là 2 mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn. Tôm là mặt hàng thủy sản được ưa chuộng nhất của người Nhật và là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ.
Nguồn cung cấp tôm nhiệt đới chủ yếu được nhập khẩu từ các nước Châu Á như: Thái Lan (40%), Trung Quốc (23%), Việt Nam (17%), còn lại là Indonexia.
Dự báo nhu cầu nhập khẩu thủy sản của Nhật sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới, nhất là trong các dịp lễ hội như Lễ hội ngắm hoa Anh đào nở (Cherry Blossom), Tuần lễ Vàng (Golden Week), lễ hội Bon (Bon Festival), kỳ nghỉ hè của học sinh và các ngày lễ kỷ niệm gia đình,… Vì vậy các doanh nghiệp chế biến thủy sản của Kiên Giang cần tiếp tục nghiên cứu, nắm bắt cơ hội để khai thác tốt thị trường này. Song, cần lưu ý các vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng kháng sinh cấm trong sản phẩm,…
* Thị trường Trung Quốc
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam và còn rất nhiều tiềm năng để khai thác, đặc biệt sau các chuyến thăm giữa lãnh đạo cấp cao hai nước trong thời gian gần đây.
Cơ cấu nhập khẩu hàng Việt nam của Trung Quốc khá đa dạng, song mặt hàng thủy sản chế biến cũng chiếm tỷ lệ đáng kể và đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp chế biến thủy sản nghiên cứu, tiếp cận và khai thác tốt thị trường to lớn này.
* Thị trường Châu Phi
Đây là một thị trường mới và xu hướng ngày càng có nhiều doanh nghiệp tập trung khai thác. Các nước nhập khẩu thủy sản lớn trong thời gian qua như Nam Phi, Ai Cập, Marốc,… Trong đó, Nam Phi vẫn là thị trường trọng tâm của khu vực này để từ đây xâm nhập qua các quốc gia khác. Tuy nhiên, khó khăn về vận chuyển và thanh toán là rào cản lớn nhất ảnh hướng đến xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này.
* Thị trường các nước ASEAN
ASEAN là khối liên kết kinh tế khu vực mà tỷ trọng ngoại thương chiếm hơn 30% trong cán cân thương mại của Việt Nam. Đây cũng là một trong những thị trường xuất khẩu thủy sản quan trọng của Việt Nam do gần gũi về mặt địa lý cũng như có nhiều thuận lợi về hợp tác thương mại nội khối.
* Các thị trường khác
Nga và các nước Đông Âu, là những thị trường lớn và không quá khó tính, việc mở rộng khai thác các thị trường này trong giai đoạn 2006-2010 cần được đẩy mạnh và cần được coi là một nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp.
Khu vực Châu Đại Dương, trọng tâm vẫn là thị trường Australia và New Zealand, mặt hàng thủy sản chế biến cũng là một trong những mặt hàng nhập khẩu chính của khu vực thị trường này, vì vậy trong thời gian tới các doanh nghiệp cần nghiên cứu khai thác tốt.
Tóm lại, nhu cầu về mặt hàng thủy sản chế biến trên thế giới đang ở mức cao và có xu hướng tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Dự báo của FAO cho thấy tổng nhu cầu thủy sản toàn cầu sẽ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm trong giai đoạn 2006-2010. Trong đó, tổng nhu cầu thủy sản bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 18,4 kg/người vào năm 2010 so với mức 16,1 kg/người của năm 2001. Những dự báo về triển vọng cung cầu cho thấy, thị trường thủy sản toàn cầu sẽ thiếu hụt khoảng 9,4 triệu tấn vào năm 2010 và sẽ đẩy mức giá xuất khẩu thủy sản lên trung bình 3,0%/năm. Đây sẽ là cơ hội tốt cho ngành chế biến thủy sản cả nước cũng như của Kiên Giang yên tâm đầu tư phát triển.
2. Dự báo tình hình nguồn nguyên liệu
Trong giai đoạn 2006 - 2010, tập trung đầu tư cho chương trình đánh bắt xa bờ, đặc biệt là củng cố và nâng cấp đội tàu đánh bắt xa bờ, nâng năng lực khai thác thuỷ sản đạt 1.341.250 CV, bình quân công suất trên phương tiện là 188,91 CV vào năm 2010.
Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ, nước ngọt, ven biển, hải đảo. Trước mắt tập trung áp dụng các mô hình nuôi công nghiệp và bán công nghiệp, xen canh đa dạng, hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi đa mục tiêu phù hợp với điều kiện tự nhiên từng khu vực nuôi. Nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản, phát triển tiểu thủ công nghiệp, các xí nghiệp vừa và nhỏ chế biến thủy sản.
Chú trọng đầu tư đồng bộ vùng chuyên canh thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp khu vực huyện Kiên Lương, Hòn Đất. Nuôi quảng canh cải tiến ở một số khu vực có điều kiện thuận lợi nhưng không khuyến khích phát triển mạnh.
Cùng với việc mở rộng nuôi tôm, tăng quy mô và hiệu quả các loại nuôi trồng thuỷ sản khác như nuôi cá đồng trong ao hồ, ruộng lúa, rừng tràm, nuôi cá lồng bè nước ngọt và nước mặn ven các sông lớn: Phú Quốc, Kiên Hải, Kiên Lương; nuôi nghêu, sò, hến biển ở vùng bãi triều và khu vực Bán đảo Cà Mau. Trong đó: Có phát triển thêm diện tích nuôi cá tra là 100 ha, chủ yếu là nuôi theo ao, hầm mương vườn, nằm xen kẽ trong đất nông nghiệp và đất thổ cư, dọc các con sông, kênh lớn để thuận lợi cho việc cấp thoát nước, tập trung tại các huyện Châu Thành, Tân Hiệp, Giồng Riềng.
Hoàn thiện các cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản; xây dựng các cơ sở kiểm soát dịch bệnh, tăng cường các biện pháp kiểm soát môi trường nuôi để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu chế biến.
Hướng phát triển trong thời gian tới là tăng cường quản lý chặt chẽ nguồn gốc các loại nguyên liệu thủy sản chế biến, khuyến khích nuôi theo qui trình từ khâu chọn giống, nguồn cung cấp thức ăn, địa điểm nuôi, khâu bảo quản cũng như tiêu chuẩn về sử dụng chất kháng sinh cho thủy sản nuôi, hạn chế ô nhiễm môi trường, dịch bệnh,…đảm bảo nguồn nguyên liệu đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu.
Để đảm bảo phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng an toàn chất lượng và bảo vệ môi trường sinh thái, trong thời gian tới đòi hỏi các cơ sở sản xuất và chế biến thủy sản thực hiện đồng bộ hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quốc tế HACCP, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong phát triển thủy sản xuất khẩu.
Dự báo phát triển nguồn nguyên liệu thủy hải sản 5 năm tới như sau:
|
Chỉ tiêu |
ĐVT |
Năm |
|
2006 |
2007 |
2008 |
2009 |
2010 |
|
Tổng sản lượng (KT+NT) |
Tấn |
371.800 |
391.100 |
410.420 |
432.475 |
457.780 |
|
- Khai thác |
|
|
|
|
|
|
|
+ Sản lượng |
Tấn |
312.518 |
315.000 |
319.280 |
324.000 |
330.835 |
|
- Nuôi trồng |
|
|
|
|
|
|
|
+ Diện tích |
Ha |
92.230 |
97.000 |
124.055 |
135.295 |
148.510 |
|
+ Sản lượng |
Tấn |
67.029 |
72.260 |
76.420 |
87.475 |
101.780 |
|
Trong đó: DT nuôi tôm |
Ha |
72.736 |
76.000 |
104.000 |
115.000 |
128.000 |
|
SL nuôi tôm |
Tấn |
23.456 |
26.000 |
37.000 |
47.000 |
59.400 |
Theo qui hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2010 của tỉnh Kiên Giang, trong những năm tới diện tích nuôi tôm được tập trung phát triển mạnh nhằm phục vụ nhu cầu chế biến xuất khẩu, chiếm 86,18% diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh.
III. Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển
1. Phương hướng, nhiệm vụ chung
Từ nay đến năm 2010 tập trung đầu tư có trọng điểm và phát triển mạnh những ngành có tiềm năng lợi thế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh Kiên Giang. Trong đó, tập trung đầu tư phát triển nâng tỷ trọng ngành thủy sản chiếm 40% GDP của khu vực nông - lâm - thủy sản và phấn đấu kim ngạch xuất khẩu hàng nông - thủy sản đến năm 2010 đạt 500 triệu USD, trong đó: hàng thủy sản đạt 300 triệu USD.
Đầu tư phát triển nông - lâm nghiệp - thủy sản theo chiều sâu, chuyển đổi giống cây con có chất lượng cao, tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tăng giá trị và áp dụng đồng bộ khoa học công nghệ giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh nông - thủy sản hàng hoá. Khai thác lợi thế của tỉnh về nguyên liệu và mặt nước để phát triển nuôi trồng thủy sản.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình đánh bắt xa bờ gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đầu tư hoàn chỉnh các cảng cá và khu dịch vụ hậu cần nghề cá. Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạng hoá, áp dụng công nghệ mới nghề nuôi, đảm bảo phát triển bền vững, lâu dài cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến xuất khẩu và phục vụ phát triển du lịch.
Nâng cấp đồng bộ trang thiết bị, công nghệ chế biến của các cơ sở hiện có đảm bảo vệ sinh môi trường, tiêu chuẩn của ngành và yêu cầu của các nước nhập khẩu về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ở các doanh nghiệp có điều kiện.
Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, trình độ kỹ thuật và tay nghề cho công nhân lao động trong các cơ sở chế biến.
2. Mục tiêu cụ thể
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến thủy sản giai đoạn 2006-2010 đạt 21,77%, chiếm tỷ trọng 30% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.
Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đến năm 2010 là 300 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 27,23%. Chiếm tỷ trọng 60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.
Tổng sản lượng thủy sản chế biến đến năm 2010 đạt 105.050 tấn, trong đó sản lượng xuất khẩu chiếm 82% tương ứng với 86.188 tấn thủy sản sẽ được xuất khẩu vào năm 2010.
Nâng cấp đồng bộ về cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị, công nghệ chế biến hiện có, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (HACCP) và điều kiện sản xuất theo tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn quốc tế. Nâng lên khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản, đặc biệt là các sản phẩm tinh chế có giá trị cao như tôm, cá, mực.
IV. Định hướng phát triển công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu
Giai đoạn từ nay đến năm 2010, cần củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo đủ khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Khuyến khích phát triển mạnh các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực đầu tư nước ngoài cho phát triển ngành nghề chế biến thủy sản xuất khẩu tỉnh Kiên Giang. Huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu của tỉnh nhằm tạo nền tảng vững chắc trong quá trình hội nhập.
Theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, tỉnh Kiên Giang sẽ hình thành một số cảng cá như: cảng Xẻo Nhàu - huyện An Minh, Ba Hòn - Kiên Lương, Tô Châu - Hà Tiên, Lình Huỳnh - Hòn Đất, Tắc Cậu - Châu Thành (giai đoạn 2),... theo đó sẽ thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản. Vì vậy, trong thời gian tới cần có kế hoạch phát triển như sau:
- Kêu gọi đầu tư các nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh vào các khu cảng cá, nhằm đảm bảo mục tiêu liên kết được các khâu sản xuất - chế biến - tiêu thụ, vừa đảm bảo ổn định được mặt bằng sản xuất.
- Phát triển thêm nhà máy chế biến bột cá tại khu cảng cá Xẻo Nhàu.
- Khu vực Bán đảo Cà Mau chỉ qui hoạch phát triển các cơ sở chế biến khô, nhất là khô cá đồng phục vụ xuất khẩu.
- Qui hoạch khu vực chế biến thủy sản có mùi 30 ha tại khu vực Lô 2 - Ấp An Bình - xã Bình An - huyện Châu Thành, để di dời và kêu gọi đầu tư các ngành chế biến bột cá, thức ăn gia súc, chế biến khô, nước mắm về khu sản xuất tập trung.
1. Chế biến thủy sản đông lạnh:
- Đầu tư chiều sâu, đổi mới trang thiết bị các nhà máy chế biến thủy sản hiện có, phấn đấu nâng mức sản xuất đạt năng lực thiết kế, để đảm bảo nâng tỷ lệ nguyên liệu được chế biến so nguồn nguyên liệu đến năm 2010 đạt 32% đối với sản phẩm chế biến từ tôm; cá các loại 30% và mực 35%. Đảm bảo tỷ lệ chế biến chiếm từ 55-70% nguồn nguyên liệu trong tỉnh.
- Kêu gọi các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh đầu tư xây dựng 07 nhà máy thủy sản đông lạnh xuất khẩu, công nghệ hiện đại ở các khu, cụm công nghiệp và các cảng cá đã qui hoạch, tổng công suất 24.700 tấn/năm, vốn đầu tư 180,80 tỷ đồng.
- Kết hợp với chế biến nhiều loại thủy sản đông lạnh là phát triển thêm mặt hàng cá tra, cá basa tại các cơ sở chế biến hiện có nhằm đa dạng hoá mặt hàng chế biến - xuất khẩu, không đầu tư nhà máy chuyên chế biến cá tra, cá basa vì nguồn nguyên liệu tại chỗ rất ít, chất lượng nguyên liệu chưa đạt yêu cầu cho chế biến, đồng thời việc thu mua nguyên liệu từ nơi khác rất khó khăn trong khâu vận chuyển.
- Đầu tư nâng cấp trang thiết bị, công nghệ hiện đại cho một số cơ sở như tủ đông tiếp xúc, băng chuyền đông IQF, máy phân cỡ, máy hút chân không,… Vốn đầu tư cải tạo 82 tỷ đồng.
- Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu, đặc biệt là hàng đông lạnh thủy sản, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn qui định trong và ngoài nước. Dự kiến đến năm 2010, tổng công suất các nhà máy đông lạnh thủy sản toàn tỉnh đạt từ 70.000 - 80.000 tấn/năm với các thiết bị chế biến đồng bộ, hiện đại, để sản xuất các mặt hàng chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
2. Chế biến thủy sản tinh, thực phẩm ăn liền đóng hộp:
Ngoài chế biến thủy sản đông lạnh, cần tiếp tục phát triển các mặt thủy sản theo hướng chế biến sâu, chế biến tinh nhằm đa dạng hoá sản phẩm để nâng lên giá trị sản phẩm chế biến, vừa tạo ra nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu da dạng của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Có thể nghiên cứu các sản phẩm ăn liền có giá trị xuất khẩu và cung cấp cho các siêu thị trong, ngoài tỉnh như: các sản phẩm ăn liền từ mực, khô các loại; cá hun khói; cá đồng, lươn, nghêu đóng hộp,… có thể chế biến để tiêu thụ nội địa và nghiên cứu các thị trường có nhu cầu để xuất khẩu.
- Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh đầu tư 02 cơ sở sản xuất các mặt hàng chế biến tinh, tổng công suất 20.000 tấn/năm tại khu công nghiệp Tắc Cậu (giai đoạn 2), vốn đầu tư 80 tỷ đồng.
- Đầu tư 01 cơ sở chế biến cá cơm đóng hộp tại cụm công nghiệp Phú Quốc, công suất từ 500-1000 tấn/năm, vốn đầu tư 2 tỷ đồng.
- Đầu tư mở rộng nhà máy đóng hộp và nhà máy chả cá ở khu cảng cá Tắc Cậu - huyện Châu Thành, vốn đầu tư 8,15 tỷ đồng.
3. Chế biến bột cá, thức ăn cho tôm - cá:
- Đẩy nhanh tiến độ di dời nhà máy bột cá ở cảng cá Tắc Cậu về khu vực qui hoạch tập trung cho các cơ sở chế biến thủy sản có mùi thuộc huyện Châu Thành, nhằm đảm bảo môi trường sản xuất cho khu vực cảng, vốn cải tạo và di dời là 9,3 tỷ đồng.
- Đầu tư 01 nhà máy chế biến thức ăn cho tôm, cá ở khu vực qui hoạch chế biến thủy sản có mùi thuộc huyện Châu Thành, công suất 10.000 tấn/năm. Vốn đầu tư 30 tỷ đồng.
- Kêu gọi đầu tư nhà máy chế biến bột cá tại khu cảng Xẻo Nhàu, nhằm tận dụng nguồn cá phế thải tại khu vực này.
4. Chế biến khô các loại:
Qui hoạch sắp xếp các cơ sở chế biến khô tập trung, vừa kiểm soát vệ sinh môi trường, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm, tránh tình trạng sản xuất phân tán, nhỏ lẻ, không đạt tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến khô hiện có theo hướng đầu tư chiều sâu, đổi mới trang thiết bị và công nghệ. Đồng thời, khuyến khích phát triển nghề chế biến khô từ nguyên liệu cá đồng ở vùng bán đảo Cà Mau, nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở khu vực này. Dự kiến năm 2010 chế biến đạt 20.000 tấn khô các loại, xuất khẩu là 6.500 tấn. Vốn đầu tư 23,7 tỷ đồng.
5. Sản xuất nước mắm:
Sắp xếp di dời các cơ sở sản xuất nước mắm tại huyện Phú Quốc vào các cụm công nghiệp tập trung nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường cho các khu đô thị, khu dân cư.
Xây dựng thương hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý cho mặt hàng nước mắm ở 2 huyện đảo Kiên Hải và Phú Quốc.
Đầu tư đổi mới một số công đoạn trong sản xuất nước mắm, nhất là khâu đóng gói, bao bì nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo các tiêu chuẩn quốc tế phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2010 toàn tỉnh sản xuất được 40 triệu lít nước mắm, trong đó xuất khẩu đạt từ 5-6 triệu lít/năm. Vốn đầu tư 24,3 tỷ đồng.
V. Cơ chế chính sách và giải pháp thực hiện
1. Phát triển cơ sở hạ tầng và vùng nguyên liệu
Nhanh chóng hoàn thiện các khu công nghiệp hiện có để tạo điều kiện về mặt bằng cho các dự án phát triển công nghiệp chế biến thủy sản. Đầu tư nâng cấp đồng bộ về giao thông, bến cảng, hệ thống điện, nước, hệ thống xử lý chất thải tập trung tại các khu, cụm công nghiệp,… nhằm thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành nghề chế biến thủy sản, đồng thời giúp cho hoạt động giao lưu hàng hoá được nhanh chóng, thuận tiện, chi phí thấp, giá thành hạ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng thuỷ lợi cho các vùng nuôi trồng thuỷ sản đảm bảo cung cấp đủ nước cho loại hình nuôi trồng nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Đẩy nhanh xây dựng các cơ sở sản xuất tôm, cá giống và cơ sở kiểm soát dịch bệnh tại Kiên Lương, Phú Quốc, vùng bán đảo Cà Mau; phấn đấu đến năm 2010 đảm bảo cung cấp tại tỉnh 60% yêu cầu giống các loại với chất lượng cao.
Qui hoạch một số khu vực đất hoang hoá, phèn mặn, đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất đai, vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, trước mắt chuyển khoảng 30.000 ha đất hiệu quả thấp ở những vùng phù hợp sang nuôi trồng thủy sản.
Tăng cường công tác khuyến công, khuyến ngư để hướng dẫn người sản xuất nâng cao kiến thức áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và nuôi trồng.
Hợp tác hoặc liên doanh liên kết với các viện, trường, các nhà khoa học trong và ngoài nước triển khai ứng dụng chuyển giao công nghệ nuôi các loài thuỷ sản phù hợp với từng vùng để năng suất cao, đảm bảo an toàn môi trường.
Tăng cường tuyên truyền cũng như quản lý tốt việc sử dụng các hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong nuôi trồng, chế biến như: Clhoramphenicol, Nitrofurans, Chloroform, Sulfite, Hàn the,… nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh các loài thủy sản đánh bắt, nuôi trồng tại khu vực nuôi và phương tiện khai thác, trong đó chú trọng kiểm soát tại các cơ sở thu mua thủy hải sản nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sản phẩm không đủ chất lượng đưa vào chế biến.
Ngân sách tỉnh cần cân đối, bố trí vốn hỗ trợ các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu của các vùng nuôi trồng thủy sản như: điện, hệ thống phao tiêu, đèn báo ranh giới khu vực nuôi, hệ thống neo lồng bè chính.
Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng mặt nước biển, đất trên hải đảo để nuôi trồng hải sản sẽ được cho thuê đất và mặt nước biển để nuôi trồng hải sản theo quy định pháp luật.
Nhà nước hỗ trợ các dự án nhập khẩu giống gốc một số loài hải sản sạch bệnh, có giá trị kinh tế cao, quý hiếm và công nghệ sản xuất giống nhân tạo để sản xuất giống trong nước, đáp ứng nhu cầu sản xuất. (theo Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/6/2005 về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy hải sản trên biển và hải đảo).
2. Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm cho ngư dân
Tiếp tục thực hiện tốt Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông - thủy sản hàng hóa thông qua hợp đồng, trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các cơ sở chế biến với người sản xuất nguyên liệu bằng hợp đồng kinh tế bao tiêu sản phẩm trên nguyên tắc cùng có lợi, cùng chia sẽ rủi ro. Để thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế, các doanh nghiệp chế biến phải có sự đầu tư về vốn, về giống, về khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm với giá cả hợp lý cho ngư dân.
Vận dụng tốt một số giải pháp về thu mua, tiêu thụ hàng hoá thủy sản thông qua hợp đồng đã được UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số 68/2004/QĐ-UB ngày 11/10/2004 về việc “Ban hành đề án một số giải pháp đẩy mạnh thu mua, tiêu thụ nông, thủy sản tỉnh Kiên Giang đến năm 2010”. Trên cơ sở đó, ngành thủy sản và các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu cần có sự bàn bạc cụ thể với dân để xây dựng phương án bao tiêu theo từng khối lượng cụ thể cho từng năm hoặc từng mùa vụ, đảm bảo chỉ tiêu chất lượng đạt yêu cầu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu với giá cả thoả thuận hợp lý.
Tạo điều kiện cho người sản xuất nguyên liệu được vay vốn từ nguồn vốn ưu đãi của các ngân hàng Phát triển, ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách để đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm.
Khuyến khích nông dân tổ chức các hình thức kinh tế như kinh tế tập thể, đại lý,... để làm đầu mối ký kết hợp đồng kinh tế với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm của tỉnh.
3. Xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm
Hỗ trợ các doanh nghiệp hình thành và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm chế biến thủy sản mới. Trước mắt, tập trung xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm “nước mắm Hòn” của huyện Kiên Hải. Xây dựng nhãn hiệu tập thể (thương hiệu) cho sản phẩm “khô cá sặc rằn, tôm khô đuôi đỏ” U Minh - huyện An Minh.
Từng bước cải thiện khâu đóng gói, bao bì và sự tiện lợi trong sử dụng của sản phẩm xuất khẩu, đa dạng hoá danh mục các sản phẩm qua chế biến gắn liền với công tác quảng bá hình ảnh, thương hiệu sản phẩm đã xây dựng trên các trang Web của ngành, của tỉnh.
Tổ chức sắp xếp lại và hình thành các làng nghề chế biến thủy sản như làng nghề sản xuất nước mắm, làng nghề chế biến khô, theo hướng bảo đảm an toàn vệ sinh môi trường, bảo vệ thương hiệu hàng hoá, đồng thời thu hút khách du lịch trong thời gian tới.
Nâng cao chất lượng sản phẩm, trước mắt tập trung vào xử lý vấn đề đồng đều về chất lượng của sản phẩm xuất khẩu, đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn vệ sinh và các qui định về an toàn hải sản.
4. Củng cố và phát triển thị trường tiêu thụ
Tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu, đi đôi với việc củng cố và nâng cao uy tín của các sản phẩm đã có thương hiệu trên các thị trường xuất khẩu truyền thống, đồng thời phải coi trọng thị trường xuất khẩu tại chỗ, nhằm tạo tính bền vững cho hoạt động xuất khẩu của tỉnh khi có biến động thị trường.
Từng bước nghiên cứu, ứng dụng thương mại điện tử trong giao dịch mua bán. Hình thành các cơ sở dữ liệu về thị trường trong và ngoài nước để nắm chắc tình hình thị trường, chủ động trong xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh của đơn vị trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài, gắn với chuẩn bị tốt việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Phát triển hệ thống thương mại, dịch vụ trên địa bàn nông thôn, đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số trung tâm thương mại huyện, chợ đầu mối tiêu thụ hàng hoá thủy sản cho ngư dân, tránh tình trạng tiêu thụ qua thương lái, sản phẩm bị ép cấp, ép giá.
5. Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nghề
Xây dựng kế hoạch tập huấn đào tạo, nâng cao tay nghề cho lao động chế biến thủy sản, đặc biệt quan tâm đào tạo tác phong công nghiệp và tinh thần kỹ luật cho công nhân khi tham gia sản xuất. Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động cần được tập huấn và đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề từ 50-60%.
Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu về pháp luật quốc tế và nghiệp vụ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, ngoại thương, nắm bắt nhanh những chuyển biến trên thương trường quốc tế để ứng xử kịp thời và đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới.
Tăng cường tập huấn phổ biến kỹ thuật cho người dân, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng tổ chức quản lý, kiến thức kinh doanh cho nhà sản xuất thông qua các hình thức hoạt động khuyến công, khuyến ngư, đảm bảo tiếp cận kịp thời trong giai đoạn phát triển mới.
Thực hiện đào tạo không thu tiền cho các hộ nông dân nuôi trồng thủy sản đối với lĩnh vực phổ biến kỹ thuật, qui trình nuôi, an toàn giống,… thông qua ngân sách nhà nước và các khoản hỗ trợ.
6. Về đổi mới công nghệ và bảo vệ môi trường
Đẩy nhanh việc triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cho sản xuất, nhất là công nghệ sinh học, giống mới, qui trình sản xuất trong nuôi trồng thủy sản để tăng năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Thực hiện các biện pháp nuôi trồng không gây ô nhiễm môi trường sinh thái, chủ động trong phòng chống dịch bệnh, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu chế biến.
Đầu tư hiện đại hoá công nghệ bảo quản sau thu hoạch nhằm giảm thiểu lượng nguyên liệu không đủ chất lượng chế biến xuất khẩu. Đổi mới máy móc thiết bị tại các cơ sở chế biến, tăng cường kiểm tra chất lượng hàng thủy sản đông lạnh xuất khẩu, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong công nghiệp chế biến như: HACCP, ISO 9001-2000. Đồng thời, phải đảm bảo môi trường sản xuất theo các tiêu chuẩn được qui định trong Quyết định số 19/2002/QĐ-BTS về qui chế quản lý môi trường đối với các cơ sở chế biến thủy sản.
Quản lý, giám sát chặt chẽ việc xử lý chất thải của các nhà máy chế biến thủy sản, kiên quyết xử lý các trường hợp cố tình gây ô nhiễm môi trường, vi phạm luật bảo vệ môi trường.
Các doanh nghiệp chế biến thủy sản cần được ưu tiên vay vốn từ nguồn Quỹ hỗ trợ phát triển để đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị tiên tiến hiện đại và đầu tư hệ thống xử lý chất thải cục bộ tại cơ sở sản xuất, nhằm đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường.
Có chính sách hỗ trợ cho các dự án sản xuất giống, nuôi trồng hải sản, chế biến thủy sản áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới.
7. Thành lập Hiệp hội ngành chế biến thủy sản
Vận động thành lập hiệp hội chế biến thủy sản nhằm tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến thủy sản, là đại diện và cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức nghề nghiệp trong và ngoài nước. Tổ chức này có vai trò:
- Giải quyết hài hoà các mối quan hệ cung - cầu trong nuôi trồng, đánh bắt, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
- Là đại diện, bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trước các vụ kiện từ phía nhà nhập khẩu quốc tế.
- Cung cấp những thông tin ngành hàng và xúc tiến thương mại giúp các doanh nghiệp định hướng sản xuất, tìm kiếm thị trường,...
- Đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế với các tổ chức, hiệp hội ngành nghề trong khu vực và trên thế giới nhằm tranh thủ hỗ trợ về tài chính, kỹ năng chuyên môn, công nghệ và kinh nghiệm hoạt động.
8. Cơ chế chính sách
Đẩy mạnh thực hiện các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp chế biến thủy sản theo Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 Qui định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/6/2005 về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy hải sản trên biển và hải đảo; Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước; và một số chính sách có liên quan khác.
Chú trọng các ngành nghề mới được khuyến khích đầu tư như: nuôi trồng thủy sản trên đất hoang hoá, các vùng nước chưa được khai thác; đánh bắt hải sản vùng biển xa bờ; chế biến thủy sản tinh; bảo quản thủy sản và thực phẩm; dịch vụ kỹ thuật nuôi trồng thủy sản; sản xuất, nhân và lai tạo giống.
Thực hiện chính sách hỗ trợ các mô hình trình diễn kỹ thuật, công nghệ tiên tiến theo Thông tư số 36/2005/TTLT-BTC-BCN ngày 16/5/2005 đối với các dự án chế biến thủy sản tinh, thủy hải sản ăn liền, đóng hộp, nhằm thu hút các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước cùng tham gia sản xuất.
Nghiên cứu hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu hàng thủy sản nhằm tạo cơ sở tiếp nhận nguồn vốn ổn định cho các doanh nghiệp yên tâm sản xuất.
VI. Tổ chức thực hiện
1. Sở Công nghiệp
Phối hợp với các Sở ngành liên quan thành lập các Hội doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng chế biến thủy sản và tạo điều kiện cho các hội này đủ năng lực họat động nhằm gắn kết giữa sản xuất nguyên liệu với chế biến, khai thác thị trường mới, điều hòa sản xuất và hạn chế tình trạng sản xuất thừa hoặc thiếu nguyên liệu.
Giao Sở Công nghiệp chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan như Sở Nông nghiệp, Thủy sản, Thương mại, Khoa học - Công nghệ, Ngân hàng nhà nước và các huyện, xây dựng qui chế phối hợp để triển khai thực hiện từng chuyên đề đạt hiệu quả.
Làm đầu mối tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh và đề xuất tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Hai năm tiến hành sơ kết, đến năm 2010 tiến hành tổng kết chương trình.
2. Sở Thủy sản
Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau, nhằm đảm bảo cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đạt năng suất, chất lượng cao. Đa dạng hóa các hình thức khuyến ngư để chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ đến nông ngư dân và cơ sở sản xuất.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình đánh bắt xa bờ gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đầu tư hoàn chỉnh các cảng cá và khu vực dịch vụ hậu cần nghề cá.
Phối hợp với Sở Tài nguyên - Môi trường và các ngành có liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra chất lượng hàng hóa chuyên ngành thủy sản, từ con giống, môi trường nuôi đến các hệ thống xử lý chất thải tại cơ sở chế biến cũng như khu cụm công nghiệp, nhằm đảm bảo chất lượng nguyên liệu và hạn chế ô nhiễm môi trường sản xuất.
Tiếp tục theo dõi thực hiện tốt Quyết định số 80/QĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tiêu thụ hàng hoá thủy sản thông qua hợp đồng, trên cơ sở phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, các Ngân hàng thương mại, Chi nhánh Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển.
Triển khai thực hiện Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/6/2005 về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy hải sản trên biển và hải đảo; Các Quyết định quản lý chuyên ngành chế biến thủy sản do Bộ Thủy sản ban hành.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư
Phối hợp với Sở Tài chính, hằng năm cân đối nguồn kinh phí phù hợp cho các họat động khuyến công, khuyến ngư. Hướng dẫn các doanh nghiệp trong và nước đầu tư lĩnh vực chế biến thủy sản tại các khu, cụm công nghiệp tập trung theo quy hoạch.
4. Sở Tài Chính
Sắp xếp cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực chế biến thủy sản. Xây dựng các chính sách hỗ trợ và hướng dẫn các doanh nghiệp di dời cơ sở sản xuất vào khu phát triển công nghiệp tập trung.
Có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cổ phần đầu tư phát triển chế biến thủy sản, nhất là người sản xuất nguyên liệu tham gia cổ phần.
Phối hợp các ngành triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách có liên quan về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước đến các doanh nghiệp chế biến - xuất khẩu thủy sản.
5. Sở Khoa học và Công nghệ
Hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Triển khai ứng dựng các tiến bộ khoa học - công nghệ cho các doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu và chế biến thủy sản, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ sở chế biến thủy sản tiếp cận kịp thời những thông tin về thị trường, giá cả các thiết bị công nghệ trong và ngoài nước.
6. Sở Thương mại
Tổ chức cung cấp thông tin cho ngư dân, các cơ sở chế biến thủy sản về giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngòai nước, pháp luật, phong tục, tập quán kinh doanh ở các nước và tổ chức quốc tế.
Triển khai chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm, phát triển mạnh sàn giao dịch điện tử nhằm khuyến khích các doanh nghiệp của tỉnh tham gia.
7. Sở Tài nguyên - Môi trường
Tăng cường công tác tuyên truyền Luật bảo vệ môi trường cũng như kiểm tra, giám sát và xử lý các cơ sở sản xuất, thu mua, chế biến thủy sản cố tình vi phạm Luật bảo vệ môi trường.
8. Sở Tư pháp
Hỗ trợ, tư vấn pháp lý trong hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là tư vấn về luật pháp quốc tế cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
9. Sở Lao động - Thương binh và xã hội
Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo công nhân có tay nghề, chuẩn bị tốt nguồn lao động gắn với chương trình chế biến thủy sản xuất khẩu tỉnh Kiên Giang đến năm 2010.
10. Sở nội vụ
Qui hoạch đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh về trình độ quản lý, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật quốc tế,… phục vụ cho chương trình phát triển thủy sản xuất khẩu đến năm 2010.
11. Các trường Cao đẳng, Trung học dạy nghề của tỉnh
Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, dài hạn cho các nhà sản xuất từ cán bộ kỹ thuật, quản lý sản xuất kinh doanh đến công nhân lành nghề, chú ý đào tạo cán bộ có trình độ ngoại ngữ, ngoại thương trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
12. Chi nhánh Ngân hành nhà nước Việt Nam tỉnh Kiên Giang
Căn cứ chương trình phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu hàng thủy sản tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 đã được phê duyệt, chỉ đạo hệ thống Ngân hàng thương mại ưu tiên tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế được vay vốn đầu tư nuôi trồng và chế biến thủy sản.
13. UBND các huyện, thị xã, thành phố
Trên cơ sở Chương trình phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 được phê duyệt, UBND các huyện, thị xã, thành phố cụ thể hoá các chương trình, dự án và gắn kết qui hoạch trên địa bàn vào chương trình này.
Chủ động phối hợp với các sở, ban ngành chức năng có liên quan xây dựng quy họach phát triển khu vực sản xuất tập trung, quy hoạch nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến hàng thủy sản.
Xác định danh mục, dự án cần ưu tiên kêu gọi đầu tư trên địa bàn huyện và phối hợp các ngành xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút đầu tư đúng kế hoạch.
Để “Chương trình phát triển công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu tỉnh Kiên Giang đến năm 2010” sau khi được phê duyệt và triển khai thực hiện đạt kết quả tốt, UBND tỉnh đề nghị các ngành và huyện, thị, thành phố hàng năm xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ như đã phân công trong Chương trình. Đồng thời, phối hợp với Sở Công nghiệp thực hiện đầy đủ các báo cáo sơ kết, tổng kết quá trình triển khai thực hiện chương trình về UBND tỉnh theo đúng thời gian qui định.
Nơi nhận: CHỦ TỊCH
- Bộ Công nghiệp;
- TT. Tỉnh ủy;
- TT. UBND tỉnh;
- Các Sở, ngành liên quan;
- UBND huyện, thị xã, thành phố;
- LĐVP + P.KHCN;
- Lưu VP.
|